Hiểu rõ về quyền sở hữu trí tuệ

Bản quyền và sở hữu trí tuệ trong thương mại quốc tế

Một vài năm trở lại đây, bản quyền sở hữu trí tuệ trong thương mại quốc tế là vấn đề được nhiều cá nhân, tổ chức cũng như các doanh nghiệp lớn nhỏ quan tâm. Tuy nhiên, không phải ai cũng nắm và hiểu rõ quy định về bản quyền và sở hữu trí tuệ. Chính vì vậy, trong bài viết này, GV Lawyers sẽ tổng hợp và chia sẻ đến quý khách một số thông tin hữu ích sau đây!

Bản quyền và sở hữu trí tuệ trong thương mại quốc tế
Bản quyền và sở hữu trí tuệ trong thương mại quốc tế

Tìm hiểu về Bản quyền và Sở hữu trí tuệ

Bản quyền là gì?

Theo quy định tại Khoản 2, Điều 4 trong Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi, bổ sung 2019) thì bản quyền hay quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu. Theo đó, tổ chức, cá nhân có tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả là người trực tiếp sáng tạo ra tác phẩm và là chủ sở hữu quyền tác giả.

Sở hữu trí tuệ là gì?

Theo Khoản 1, Điều 4 trong Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi 2009, 2019), quyền sở hữu trí tuệ là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tài sản trí tuệ, bao gồm quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng.

Hiểu rõ về quyền sở hữu trí tuệ
Hiểu rõ về quyền sở hữu trí tuệ

Hiểu rõ về bản quyền sở hữu trí tuệ trong thương mại quốc tế

Bản quyền sở hữu trí tuệ trong thương mại quốc tế là các khái niệm phức tạp liên quan đến việc bảo vệ các ý tưởng, sáng tạo và tài sản tinh thần của cá nhân hoặc tổ chức.

Trong môi trường quốc tế, có những hiệp định và tổ chức quốc tế đã được thiết lập để đảm bảo việc bảo vệ và quản lý bản quyền và sở hữu trí tuệ trên phạm vi toàn cầu. Dưới đây là một số khái niệm chính liên quan đến bản quyền và sở hữu trí tuệ:

Hiệp định TRIPS (Agreement on Trade-Related Aspects of Intellectual Property Rights)

Đây là một hiệp định trong khuôn khổ Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) nhằm định rõ về việc bảo vệ sở hữu trí tuệ trên phạm vi quốc tế. Hiệp định TRIPS bao gồm các quy định về bản quyền, nhãn hiệu, bằng sáng chế và các khía cạnh khác của sở hữu trí tuệ.

Bằng sáng chế toàn cầu

Tổ chức Sở hữu Trí tuệ Thế giới (WIPO) quản lý hệ thống Bằng sáng chế Toàn cầu, cho phép các người sáng chế đăng ký sáng chế của họ tại nhiều quốc gia trên thế giới thông qua một thủ tục duy nhất.

Bản quyền toàn cầu

Tuy không có tổ chức quốc tế chuyên trách giám sát bản quyền như WIPO cho sáng chế, nhưng các hiệp định quốc tế như Công ước Berne về bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật đề xuất một khung pháp lý chung cho việc bảo vệ bản quyền trên phạm vi quốc tế. Các quốc gia có thể tham gia Công ước Berne để cam kết tuân thủ các nguyên tắc bảo vệ bản quyền.

Nhãn hiệu và Thiết kế toàn cầu

WIPO cũng quản lý Hệ thống Madrid cho đăng ký Nhãn hiệu Quốc tế và Hệ thống Hague cho đăng ký Kiểu dáng công nghiệp. Điều này cho phép cá nhân và tổ chức đăng ký và quản lý nhãn hiệu và thiết kế của họ trên phạm vi toàn cầu.

Bảo vệ Sở hữu trí tuệ trước các tổ chức quốc tế

Ngoài việc tuân thủ các hiệp định quốc tế, người sở hữu trí tuệ có thể bảo vệ quyền của mình trước các cơ quan quốc tế như WTO, WIPO, hay sử dụng hệ thống tòa án quốc tế như Tòa án Công lý Quốc tế (ICJ).

Tóm lại, trong thương mại quốc tế có nhiều cơ chế và tổ chức đã được tạo ra để đảm bảo việc bảo vệ, quản lý bản quyền và sở hữu trí tuệ trên phạm vi toàn cầu. Tuy nhiên, việc áp dụng và thực thi quyền sở hữu trí tuệ vẫn còn gặp phải nhiều thách thức do sự khác biệt về pháp luật và quy định tại từng quốc gia.

Hiểu rõ về bản quyền và sở hữu trí tuệ trong thương mại quốc tế
Hiểu rõ về bản quyền và sở hữu trí tuệ trong thương mại quốc tế

Một số thông tin liên quan về Luật bản quyền sở hữu trí tuệ

Căn cứ phát sinh, xác lập quyền sở hữu trí tuệ

Các căn cứ phát sinh, xác lập quyền sở hữu trí tuệ được quy định tại Điều 6 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi 2009, 2019), cụ thể như sau:

– Quyền tác giả phát sinh kể từ khi tác phẩm được sáng tạo và được thể hiện d­ưới một hình thức vật chất nhất định, không phân biệt nội dung, chất lượng, hình thức, phương tiện, ngôn ngữ, đã công bố hay ch­ưa công bố, đã đăng ký hay ch­ưa đăng ký.

– Quyền liên quan phát sinh kể từ khi cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chư­ơng trình được mã hóa được định hình hoặc thực hiện mà không gây ph­ương hại đến quyền tác giả.

– Quyền sở hữu công nghiệp được xác lập như sau: Quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí, nhãn hiệu được xác lập trên cơ sở quyết định cấp văn bằng bảo hộ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo thủ tục đăng ký quy định tại Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi 2009, 2019) hoặc công nhận đăng ký quốc tế theo điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

– Quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu nổi tiếng được xác lập trên cơ sở sử dụng, không phụ thuộc vào thủ tục đăng ký.

– Quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn địa lý được xác lập trên cơ sở quyết định cấp văn bằng bảo hộ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo thủ tục đăng ký quy định tại Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi 2009, 2019) hoặc theo điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên;

  • Quyền sở hữu công nghiệp đối với tên thương mại được xác lập trên cơ sở sử dụng hợp pháp tên thương mại đó;
  • Quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh được xác lập trên cơ sở có được một cách hợp pháp bí mật kinh doanh và thực hiện việc bảo mật bí mật kinh doanh đó;
  • Quyền chống cạnh tranh không lành mạnh được xác lập trên cơ sở hoạt động cạnh tranh trong kinh doanh.

– Quyền đối với giống cây trồng được xác lập trên cơ sở quyết định cấp Bằng bảo hộ giống cây trồng của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo thủ tục đăng ký quy định tại Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi 2009, 2019).

Giới hạn quyền sở hữu trí tuệ

Cụ thể Điều 7 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi 2009, 2019), giới hạn quyền sở hữu trí tuệ được quy định như sau:

– Chủ thể quyền sở hữu trí tuệ chỉ được thực hiện quyền của mình trong phạm vi và thời hạn bảo hộ theo quy định Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi 2009, 2019).

– Việc thực hiện quyền sở hữu trí tuệ không được xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác và không được vi phạm các quy định khác của pháp luật có liên quan.

Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi 2022 sửa đổi tài khoản này như sau: Việc thực hiện quyền sở hữu trí tuệ không được xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân và không được vi phạm quy định khác của pháp luật có liên quan.

Tổ chức, cá nhân thực hiện quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến Quốc kỳ, Quốc huy, Quốc ca nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam không được ngăn chặn, cản trở việc phổ biến, sử dụng Quốc kỳ, Quốc huy, Quốc ca.

– Trong trường hợp nhằm đảm bảo mục tiêu quốc phòng, an ninh, dân sinh và các lợi ích khác của Nhà nước, xã hội quy định tại Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi 2009, 2019), Nhà nước có quyền cấm hoặc hạn chế chủ thể quyền sở hữu trí tuệ thực hiện quyền của mình hoặc buộc chủ thể quyền sở hữu trí tuệ phải cho phép tổ chức, cá nhân khác sử dụng một hoặc một số quyền của mình với những điều kiện phù hợp; việc giới hạn quyền đối với sáng chế thuộc bí mật nhà nước được thực hiện theo quy định của Chính phủ.

Trên đây là những thông tin tham khảo về bản quyền sở hữu trí tuệ trong thương mại quốc tế. Để được tư vấn và hỗ trợ giải quyết các vấn đề liên quan đến luật bản quyền và sở hữu trí tuệ chi tiết nhất, quý khách vui lòng liên hệ đến GV Lawyers theo số hotline 028 3622 3555 nhé!

Xem thêm: Quy định về chuyển giao công nghệ quốc tế mới nhất

Rate this post
Scroll to Top