Bảo hiểm thất nghiệp người lao động nước ngoài là vấn đề khiến nhiều doanh nghiệp và bộ phận nhân sự băn khoăn, đặc biệt khi người nước ngoài làm việc tại Việt Nam vẫn có thể thuộc diện tham gia một số chế độ bảo hiểm bắt buộc. Theo Luật Việc làm 2025 có hiệu lực từ ngày 01/01/2026, người lao động là công dân nước ngoài không thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp tại Việt Nam và do đó không được hưởng trợ cấp thất nghiệp theo cơ chế BHTN.
Tuy nhiên, điều này không đồng nghĩa người lao động nước ngoài không có các quyền lợi hoặc nghĩa vụ bảo hiểm khác. Tùy trường hợp, họ có thể thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc, BHYT, được hưởng BHXH một lần, trợ cấp thôi việc hoặc các khoản thanh toán khác khi chấm dứt quan hệ lao động.
Do đó, doanh nghiệp cần phân biệt rõ BHTN, BHXH và trợ cấp thôi việc để xác định đúng nghĩa vụ và quyền lợi khi sử dụng hoặc chấm dứt hợp đồng với lao động nước ngoài.
Người lao động nước ngoài có phải đóng bảo hiểm thất nghiệp không?
Câu trả lời hiện nay là không. Luật Việc làm số 74/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 16/06/2025 và có hiệu lực từ 01/01/2026, thay thế Luật Việc làm 2013.
Theo Điều 2 Luật Việc làm 2025, khái niệm “người lao động” trong phạm vi điều chỉnh của luật này được xác định là công dân Việt Nam từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động và có nhu cầu làm việc.
Trong khi đó, Điều 31 Luật Việc làm 2025 quy định các nhóm người lao động thuộc diện tham gia bảo hiểm thất nghiệp, bao gồm người làm việc theo các loại hợp đồng và một số nhóm lao động khác được luật quy định.
Do khái niệm người lao động của Luật Việc làm vẫn gắn với công dân Việt Nam, người lao động mang quốc tịch nước ngoài làm việc tại Việt Nam hiện không thuộc đối tượng tham gia BHTN.
Đây cũng là kết luận được thể hiện trong nội dung hướng dẫn của Thư Viện Pháp Luật cập nhật cho thời điểm từ ngày 01/01/2026.

Người lao động nước ngoài có được hưởng trợ cấp thất nghiệp không?
Không. Để hưởng trợ cấp thất nghiệp, trước hết người lao động phải thuộc đối tượng tham gia và có thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp đáp ứng điều kiện của Luật Việc làm.
Điều 38 Luật Việc làm 2025 xác định người thuộc đối tượng tham gia BHTN và đang đóng BHTN chỉ được hưởng trợ cấp thất nghiệp khi đáp ứng đồng thời các điều kiện luật định.
Do người lao động nước ngoài không thuộc diện tham gia BHTN, nên khi hợp đồng lao động kết thúc họ không thể làm hồ sơ để nhận trợ cấp thất nghiệp theo cơ chế này.
Điểm này cần phân biệt với trường hợp người lao động Việt Nam. Một lao động Việt Nam mất việc cũng không đương nhiên có trợ cấp thất nghiệp, mà còn phải đáp ứng điều kiện về thời gian đóng, lý do chấm dứt hợp đồng, thời hạn nộp hồ sơ và các điều kiện khác.
Không được hưởng BHTN, người lao động nước ngoài có được hưởng trợ cấp thôi việc không?
Đây là vấn đề doanh nghiệp và người lao động rất dễ nhầm lẫn. Trợ cấp thất nghiệp và trợ cấp thôi việc là hai chế độ khác nhau.
Trợ cấp thất nghiệp được chi từ Quỹ bảo hiểm thất nghiệp trên cơ sở quá trình tham gia BHTN. Trong khi đó, trợ cấp thôi việc là khoản mà người sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả khi người lao động đáp ứng các điều kiện tại Điều 46 Bộ luật Lao động 2019.
Người nước ngoài làm việc tại Việt Nam vẫn có thể được hưởng trợ cấp thôi việc nếu đáp ứng điều kiện pháp luật.
Điều kiện cơ bản để được hưởng trợ cấp thôi việc
Theo Điều 46 Bộ luật Lao động 2019, về nguyên tắc người lao động phải:
- Làm việc thường xuyên cho người sử dụng lao động từ đủ 12 tháng trở lên;
- Chấm dứt hợp đồng lao động thuộc trường hợp được pháp luật xác định là được hưởng trợ cấp thôi việc;
- Không thuộc trường hợp bị loại trừ theo quy định.
Ví dụ, việc chấm dứt có thể xuất phát từ hết hạn hợp đồng, hoàn thành công việc theo hợp đồng, các bên thỏa thuận chấm dứt hoặc người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng đúng pháp luật.
Ngược lại, một số trường hợp như bị xử lý kỷ luật sa thải hoặc thuộc trường hợp không đáp ứng điều kiện tại Điều 46 có thể không được hưởng khoản này.
Cách tính trợ cấp thôi việc cho lao động nước ngoài
Công thức cơ bản: Trợ cấp thôi việc = 1/2 × Thời gian làm việc tính trợ cấp × Tiền lương tính trợ cấp
Trong đó:
- Tiền lương tính trợ cấp là tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của 06 tháng liền kề trước khi thôi việc.
- Thời gian tính trợ cấp về nguyên tắc là tổng thời gian thực tế làm việc cho người sử dụng lao động sau khi trừ các khoảng thời gian pháp luật quy định không được tính.
Đối với lao động nước ngoài không thuộc đối tượng tham gia BHTN, thời gian làm việc thực tế về nguyên tắc không bị trừ thời gian tham gia BHTN khi xác định thời gian tính trợ cấp thôi việc. Tuy nhiên, vẫn cần loại trừ các khoảng thời gian đã được pháp luật quy định không tính vào thời gian làm việc để hưởng trợ cấp.
Doanh nghiệp có phải trả thêm khoản tương đương tiền đóng BHTN cho lao động nước ngoài?
Theo Điều 168 Bộ luật Lao động 2019, đối với người lao động không thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc, BHYT hoặc BHTN, người sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả thêm cùng kỳ trả lương một khoản tiền tương đương với mức người sử dụng lao động phải đóng cho các loại bảo hiểm tương ứng theo quy định pháp luật.
Do đó, việc người lao động nước ngoài không thuộc diện tham gia BHTN không đồng nghĩa doanh nghiệp có thể bỏ qua khoản chi trả bổ sung này; doanh nghiệp cần xác định chính xác từng loại bảo hiểm mà người lao động thuộc hoặc không thuộc đối tượng tham gia.
Các hướng dẫn pháp lý hiện hành cũng ghi nhận nguyên tắc này đối với lao động nước ngoài không thuộc diện tham gia BHTN.
Doanh nghiệp vì vậy không nên hiểu rằng:
“Người nước ngoài không tham gia BHTN thì doanh nghiệp hoàn toàn không còn nghĩa vụ nào liên quan.”
Thực tế, cần kiểm tra đồng thời hợp đồng lao động, tình trạng tham gia từng loại bảo hiểm và khoản phải trả trực tiếp cho người lao động.

Lao động nước ngoài có được nhận BHXH một lần khi nghỉ việc không?
Trong những trường hợp đáp ứng điều kiện, có thể. Khoản 2 Điều 70 Luật Bảo hiểm xã hội 2024 quy định các trường hợp lao động nước ngoài thuộc diện BHXH bắt buộc có thể đề nghị hưởng BHXH một lần sau khi chấm dứt tham gia.
Một trường hợp đáng chú ý là người lao động chấm dứt hợp đồng lao động hoặc giấy phép lao động, chứng chỉ hành nghề, giấy phép hành nghề hết hiệu lực mà không được gia hạn.
Như vậy, cần phân biệt rõ:
| Quyền lợi | Lao động nước ngoài |
| Tham gia BHTN | Không thuộc đối tượng hiện hành |
| Hưởng trợ cấp thất nghiệp | Không |
| Tham gia BHXH bắt buộc | Có thể có, nếu thuộc đối tượng |
| Hưởng BHXH một lần | Có thể, nếu đủ điều kiện |
| Trợ cấp thôi việc | Có thể, nếu đáp ứng Điều 46 BLLĐ |
| Quyền lợi khác khi chấm dứt HĐLĐ | Phụ thuộc từng trường hợp |

Doanh nghiệp cần lưu ý gì khi chấm dứt hợp đồng với lao động nước ngoài?
Quản lý lao động nước ngoài không chỉ là câu chuyện về BHTN. Sai sót thường xảy ra khi doanh nghiệp xử lý từng nghĩa vụ riêng lẻ mà không kiểm tra toàn bộ hồ sơ lao động.
Rà soát căn cứ chấm dứt hợp đồng
Doanh nghiệp cần xác định rõ hợp đồng chấm dứt do:
- Hết hạn;
- Thỏa thuận chấm dứt;
- Người lao động hoặc doanh nghiệp đơn phương chấm dứt;
- Giấy phép lao động hết hiệu lực;
- Thay đổi cơ cấu, công nghệ;
- Lý do khác theo Bộ luật Lao động.
Không phải mọi trường hợp chấm dứt nêu trên đều đương nhiên phát sinh trợ cấp thôi việc; doanh nghiệp cần đối chiếu từng căn cứ chấm dứt với Điều 46 Bộ luật Lao động 2019.
Căn cứ chấm dứt khác nhau có thể dẫn tới nghĩa vụ tài chính và thủ tục khác nhau.
Nếu phát sinh bất đồng về tiền lương, chấm dứt hợp đồng, trợ cấp hoặc bảo hiểm, doanh nghiệp có thể tham khảo thêm nội dung về tranh chấp lao động để nhận diện quy trình và cơ chế giải quyết phù hợp.
Tính đúng các khoản thanh toán khi nghỉ việc
Không có trợ cấp thất nghiệp không có nghĩa doanh nghiệp không phải thanh toán khoản khác.
HR cần rà soát tối thiểu:
- Tiền lương chưa thanh toán;
- Tiền phép năm chưa nghỉ nếu thuộc trường hợp được thanh toán;
- Trợ cấp thôi việc hoặc trợ cấp liên quan nếu đủ điều kiện;
- Các khoản bảo hiểm;
- Khoản bổ sung theo hợp đồng;
- Nghĩa vụ thuế thu nhập cá nhân;
- Các thỏa thuận về thưởng hoặc quyền lợi khác.
Cẩn trọng khi tái cấu trúc có sử dụng lao động nước ngoài
Nếu việc chấm dứt lao động phát sinh từ thay đổi cơ cấu, tổ chức hoặc tái cấu trúc, doanh nghiệp cần kiểm tra cả quy định về phương án sử dụng lao động, căn cứ chấm dứt và nghĩa vụ chi trả, thay vì chỉ dựa vào ngày hết hạn giấy phép hoặc hợp đồng.
Doanh nghiệp đang trong quá trình điều chỉnh bộ máy có thể tham khảo thêm nội dung tái cấu trúc nhân sự để đánh giá rủi ro lao động ngay từ giai đoạn lập kế hoạch.
GV Lawyers lưu ý gì khi doanh nghiệp sử dụng lao động nước ngoài?
Vấn đề bảo hiểm đối với lao động nước ngoài thường liên quan đồng thời đến nhiều nhóm quy định: hợp đồng lao động, giấy phép lao động, BHXH, BHYT, thuế thu nhập cá nhân và thủ tục chấm dứt quan hệ lao động.
Vì vậy, thay vì chỉ hỏi “có phải đóng BHTN hay không”, doanh nghiệp nên rà soát toàn bộ compliance checklist đối với từng lao động nước ngoài.
Đối với doanh nghiệp có số lượng lao động nước ngoài lớn hoặc thường xuyên tuyển dụng chuyên gia, nhà quản lý quốc tế, việc kiểm tra định kỳ có thể được tích hợp vào hoạt động tư vấn pháp lý thường xuyên nhằm hạn chế sai sót tích lũy trong quá trình vận hành.
Trong các trường hợp có yếu tố pháp lý phức tạp, doanh nghiệp cũng có thể làm việc với luật sư tại Việt Nam để đánh giá cụ thể căn cứ chấm dứt hợp đồng, quyền lợi của lao động nước ngoài và nghĩa vụ của người sử dụng lao động.

Theo quy định đang áp dụng năm 2026, bảo hiểm thất nghiệp người lao động nước ngoài không thuộc chế độ bắt buộc tại Việt Nam, nên người nước ngoài khi mất việc không được hưởng trợ cấp thất nghiệp từ Quỹ BHTN. Tuy nhiên, đây chỉ là một phần của bài toán pháp lý khi chấm dứt quan hệ lao động. Người lao động nước ngoài vẫn có thể thuộc diện BHXH bắt buộc, hưởng BHXH một lần, trợ cấp thôi việc và các quyền lợi khác nếu đáp ứng điều kiện.
Đối với doanh nghiệp sử dụng chuyên gia và lao động nước ngoài, việc xác định đúng từng nghĩa vụ ngay từ khi ký hợp đồng đến khi chấm dứt quan hệ lao động sẽ giúp hạn chế đáng kể nguy cơ truy thu, tranh chấp hoặc phát sinh nghĩa vụ thanh toán ngoài dự kiến.


