Việc triển khai thuế tối thiểu toàn cầu Pillar 2 Việt Nam đang làm thay đổi đáng kể cách các tập đoàn đa quốc gia đánh giá ưu đãi thuế, xác định chi phí đầu tư và quản lý nghĩa vụ thuế tại từng quốc gia. Từ năm tài chính 2024, Việt Nam áp dụng thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo Nghị quyết 107/2023/QH15. Đến năm 2025, Chính phủ ban hành Nghị định 236/2025/NĐ-CP để hướng dẫn chi tiết về đối tượng nộp thuế, phương pháp tính, đăng ký, kê khai và nộp thuế. Nghị định có hiệu lực từ ngày 15/10/2025 nhưng được áp dụng từ năm tài chính 2024.
Đối với doanh nghiệp thuộc một tập đoàn đa quốc gia, vấn đề cần quan tâm không chỉ là thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp ghi trong giấy chứng nhận đầu tư. Doanh nghiệp còn phải đánh giá thuế suất thực tế theo quy tắc GloBE, khả năng phát sinh thuế bổ sung và nghĩa vụ báo cáo xuyên biên giới. Hãy cùng xem qua bài viết tham khảo sau đây.
Cơ sở pháp lý về thuế tối thiểu toàn cầu tại Việt Nam
Khung pháp lý trọng tâm về thuế tối thiểu toàn cầu Pillar 2 Việt Nam hiện gồm:
- Nghị quyết 107/2023/QH15 ngày 29/11/2023 của Quốc hội quy định việc áp dụng thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu. Nghị quyết có hiệu lực từ ngày 01/01/2024 và áp dụng từ năm tài chính 2024.
- Nghị định 236/2025/NĐ-CP ngày 29/8/2025 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Nghị quyết 107/2023/QH15. Nghị định hướng dẫn về phạm vi người nộp thuế, QDMTT, IIR, biện pháp giảm trừ trách nhiệm, thủ tục đăng ký và khai thuế.
Ngoài ra, các doanh nghiệp cần theo dõi tài liệu hướng dẫn GloBE của OECD. Các quy tắc này tiếp tục được cập nhật về cách tính thuế suất thực tế, thuế hoãn lại, cơ chế giảm trừ trách nhiệm và biểu mẫu báo cáo thông tin. Năm 2026, OECD tiếp tục công bố hướng dẫn hành chính và tài liệu bình luận hợp nhất mới về Pillar 2.

Doanh nghiệp nào thuộc phạm vi áp dụng?
Theo quy định của Việt Nam, người nộp thuế là đơn vị hợp thành của tập đoàn đa quốc gia có doanh thu trong báo cáo tài chính hợp nhất của công ty mẹ tối cao đạt ít nhất 750 triệu EUR trong tối thiểu hai năm của bốn năm tài chính liền kề trước năm xác định nghĩa vụ thuế.
Một đơn vị hợp thành có thể là:
- Công ty mẹ tối cao.
- Công ty mẹ trung gian.
- Công ty mẹ bị sở hữu một phần.
- Công ty, tổ chức hoặc đơn vị kinh doanh khác thuộc tập đoàn.
- Cơ sở thường trú của một công ty hoặc tổ chức thuộc tập đoàn.
Doanh nghiệp tại Việt Nam không nên chỉ xem xét doanh thu của riêng pháp nhân Việt Nam. Ngưỡng 750 triệu EUR được xác định trên báo cáo tài chính hợp nhất của công ty mẹ tối cao, không phải doanh thu riêng của công ty con tại Việt Nam. Đối với tập đoàn mới thành lập và hoạt động dưới bốn năm, đơn vị hợp thành vẫn có thể thuộc phạm vi áp dụng nếu tập đoàn có ít nhất hai năm đạt ngưỡng doanh thu nêu trên. Nghị định 236/2025/NĐ-CP cũng có quy định riêng để xác định doanh thu trong trường hợp sáp nhập, hợp nhất, chia hoặc tách tập đoàn.
Những tổ chức nào được loại trừ?
Một số tổ chức được loại trừ khỏi phạm vi người nộp thuế, bao gồm:
- Tổ chức của Chính phủ.
- Tổ chức quốc tế.
- Tổ chức phi lợi nhuận.
- Quỹ hưu trí.
- Quỹ đầu tư là công ty mẹ tối cao.
- Tổ chức đầu tư bất động sản là công ty mẹ tối cao.
- Một số tổ chức thuộc sở hữu của các đối tượng được loại trừ và đáp ứng điều kiện về tỷ lệ sở hữu, hoạt động hoặc nguồn thu nhập.
Việc loại trừ không nên được xác định chỉ dựa trên tên gọi pháp lý. Doanh nghiệp cần kiểm tra cơ cấu sở hữu, chức năng thực tế, loại thu nhập và điều kiện cụ thể tại Nghị quyết 107/2023/QH15 và Nghị định 236/2025/NĐ-CP.
Việt Nam áp dụng những cơ chế thuế bổ sung nào?
Khung pháp luật Việt Nam tập trung vào hai cơ chế chính là QDMTT và IIR.
Thuế bổ sung tối thiểu nội địa đạt chuẩn – QDMTT
QDMTT là viết tắt của “Qualified Domestic Minimum Top-up Tax”, được pháp luật Việt Nam gọi là thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung tối thiểu nội địa đạt chuẩn. Cơ chế này cho phép Việt Nam thu thuế bổ sung đối với phần thu nhập chịu thuế thấp của các đơn vị hợp thành đang hoạt động tại Việt Nam. Khi thuế suất thực tế của các đơn vị hợp thành tại Việt Nam thấp hơn 15%, QDMTT có thể được áp dụng để nâng mức thuế thực tế lên mức tối thiểu.
Theo thứ tự áp dụng chung của OECD, quốc gia nơi phát sinh thu nhập chịu thuế thấp có quyền ưu tiên thu thuế bổ sung thông qua QDMTT. Nếu quốc gia đó không áp dụng QDMTT đạt chuẩn, quyền thu thuế có thể chuyển sang quốc gia của công ty mẹ thông qua IIR hoặc sang các quốc gia khác thông qua cơ chế UTPR.
Việc Việt Nam áp dụng QDMTT vì vậy có ý nghĩa trong việc bảo vệ quyền đánh thuế đối với lợi nhuận phát sinh từ hoạt động kinh doanh tại Việt Nam.

Quy tắc tổng hợp thu nhập chịu thuế tối thiểu – IIR
IIR là viết tắt của “Income Inclusion Rule”, được gọi là quy tắc tổng hợp thu nhập chịu thuế tối thiểu. Quy tắc này có thể áp dụng khi công ty mẹ tối cao, công ty mẹ trung gian hoặc công ty mẹ bị sở hữu một phần tại Việt Nam trực tiếp hoặc gián tiếp nắm giữ đơn vị hợp thành chịu thuế suất thấp tại nước ngoài.
Trong trường hợp đó, công ty mẹ tại Việt Nam có thể phải kê khai và nộp phần thuế bổ sung được phân bổ từ đơn vị hợp thành chịu thuế suất thấp ở nước ngoài. QDMTT tập trung vào thu nhập chịu thuế thấp tại Việt Nam, trong khi IIR tập trung vào phần thu nhập chịu thuế thấp ở nước ngoài được phân bổ cho công ty mẹ thuộc phạm vi áp dụng tại Việt Nam.
Thuế suất thực tế và thuế bổ sung được xác định như thế nào?
Thuế suất thực tế theo GloBE được xác định trên cơ sở tổng hợp thu nhập và thuế của các đơn vị hợp thành tại cùng một quốc gia. Cách tiếp cận này khác với việc tính thuế thu nhập doanh nghiệp riêng cho từng pháp nhân.
Về nguyên tắc khái quát:
Thuế suất thực tế = Thuế thuộc phạm vi áp dụng đã điều chỉnh / Thu nhập ròng theo GloBE.
Nếu thuế suất thực tế thấp hơn 15%:
Tỷ lệ thuế bổ sung = 15% – Thuế suất thực tế.
Tỷ lệ thuế bổ sung được áp dụng đối với phần lợi nhuận vượt mức sau khi trừ khoản giảm trừ dựa trên tiền lương và tài sản hữu hình. OECD gọi đây là khoản loại trừ thu nhập dựa trên hoạt động thực chất.
Ví dụ đơn giản, một tập đoàn có thu nhập GloBE tại Việt Nam là 100 đơn vị và thuế thuộc phạm vi áp dụng đã điều chỉnh là 10 đơn vị. Thuế suất thực tế là 10%. Nếu khoản giảm trừ dựa trên hoạt động thực chất là 20 đơn vị, lợi nhuận tính thuế bổ sung còn 80 đơn vị. Tỷ lệ thuế bổ sung là 5%, tương ứng số thuế bổ sung sơ bộ là 4 đơn vị.
Ví dụ này chỉ minh họa nguyên tắc. Trên thực tế, doanh nghiệp còn phải xử lý nhiều nội dung phức tạp như:
- Chênh lệch chuẩn mực kế toán.
- Thuế hiện hành và thuế hoãn lại.
- Cổ tức và thu nhập từ vốn chủ sở hữu.
- Giao dịch nội bộ tập đoàn.
- Lỗ GloBE và tài sản thuế hoãn lại.
- Điều chỉnh của các năm tài chính trước.
- Liên doanh, cơ sở thường trú và đơn vị đầu tư.
Doanh nghiệp không nên lấy lợi nhuận chịu thuế theo tờ khai thuế thu nhập doanh nghiệp thông thường để thay thế trực tiếp cho thu nhập GloBE.

Thời hạn đăng ký, kê khai và nộp thuế cần lưu ý
Nghị định 236/2025/NĐ-CP quy định nhiều mốc thời gian riêng cho thuế tối thiểu toàn cầu.
Thông báo đơn vị chịu trách nhiệm kê khai
Tập đoàn hoặc đơn vị được giao trách nhiệm phải gửi thông báo về đơn vị hợp thành chịu trách nhiệm kê khai và danh sách đơn vị thuộc phạm vi áp dụng trong vòng 30 ngày kể từ ngày kết thúc năm tài chính báo cáo.
Đăng ký thuế
Đơn vị hợp thành chịu trách nhiệm kê khai phải nộp hồ sơ đăng ký thuế chậm nhất 90 ngày sau ngày kết thúc năm tài chính báo cáo. Trường hợp năm tài chính 2024 kết thúc vào hoặc trước ngày 30/6/2025, thời hạn đăng ký thuế được áp dụng theo quy định chuyển tiếp tại Nghị định 236/2025/NĐ-CP.
Kê khai và nộp QDMTT
Thời hạn nộp hồ sơ khai thuế và nộp thuế QDMTT là 12 tháng sau ngày kết thúc năm tài chính. Đối với tập đoàn có năm tài chính trùng năm dương lịch, thời hạn QDMTT cho năm tài chính 2024 là ngày 31/12/2025.
Kê khai và nộp thuế theo IIR
Thời hạn áp dụng cho IIR là:
- 18 tháng sau ngày kết thúc năm tài chính đối với năm đầu tiên tập đoàn thuộc phạm vi áp dụng.
- 15 tháng sau ngày kết thúc năm tài chính đối với các năm tiếp theo.
Với tập đoàn có năm tài chính 2024 trùng năm dương lịch, thời hạn của năm áp dụng đầu tiên là ngày 30/6/2026. Doanh nghiệp chưa hoàn tất nghĩa vụ đúng hạn cần nhanh chóng đánh giá tình trạng kê khai, số thuế phát sinh, tiền chậm nộp và khả năng áp dụng quy định chuyển tiếp.
Biện pháp giảm trừ trách nhiệm có giúp doanh nghiệp không phải nộp thuế?
Nghị định 236/2025/NĐ-CP quy định một số cơ chế giảm trừ trách nhiệm và đơn giản hóa việc tính toán trong giai đoạn chuyển tiếp.
Các cơ chế đáng chú ý gồm:
- Giảm trừ trách nhiệm dựa trên báo cáo lợi nhuận liên quốc gia trong giai đoạn chuyển tiếp.
- Tiêu chí tổng doanh thu và lợi nhuận trước thuế.
- Tiêu chí thuế suất thực tế được đơn giản hóa.
- Tiêu chí lợi nhuận thông thường.
- Tiêu chí ngưỡng doanh thu và thu nhập tối thiểu.
- Phương pháp đơn giản hóa đối với đơn vị hợp thành không trọng yếu.
Khi đáp ứng điều kiện, số thuế bổ sung của một quốc gia trong năm liên quan có thể được xác định bằng không hoặc doanh nghiệp được giảm đáng kể khối lượng tính toán. Tuy nhiên, giảm trừ trách nhiệm không đồng nghĩa doanh nghiệp được miễn mọi nghĩa vụ báo cáo. Doanh nghiệp vẫn cần chuẩn bị tài liệu chứng minh điều kiện áp dụng, báo cáo lợi nhuận liên quốc gia đạt chuẩn và các dữ liệu kế toán liên quan.
Thuế tối thiểu toàn cầu Pillar 2 Việt Nam không chỉ làm phát sinh một khoản thuế bổ sung. Cơ chế này thay đổi cách doanh nghiệp đánh giá ưu đãi đầu tư, tổ chức dữ liệu tài chính và quản lý nghĩa vụ thuế trong toàn tập đoàn. Các doanh nghiệp FDI và công ty mẹ tại Việt Nam cần sớm xác định phạm vi áp dụng, mô phỏng thuế suất thực tế, rà soát các mốc đăng ký và kê khai. Việc chuẩn bị từ sớm giúp doanh nghiệp hạn chế sai lệch dữ liệu, tránh bỏ sót nghĩa vụ và chủ động hơn khi thực hiện giao dịch đầu tư xuyên biên giới.

GV Lawyers sẵn sàng đồng hành cùng doanh nghiệp trong quá trình đánh giá tác động, xây dựng phương án tuân thủ và xử lý các vấn đề pháp lý phát sinh từ Pillar 2 tại Việt Nam.


